;

Welcome to Khám Gì Ở Đâu

PHẪU THUẬT GIẢI ÉP TỦY TRONG LAO CỘT SỐNG NGỰC

- Cột sống ngực có 12 đốt sống, liên quan nhiều đến phổi, màng phổi,trung thất.- Lao cột sống ngực thường gặp hơn các nơi khác của cột sống.- Trên lâm sàng ít gặp lao cột sống ngực cao (D1-D4) bị mất vững cộtsống, mặc dù có triệu chứng ép tủy; phẫu thuật dẫn lưu áp xe, nạo viêm thânđốt sống đơn thuần hoặc bằng nội soi qua khoang lồng ngực cũng thường đạthiệu quả tốt.- Phẫu thuật kết hợp xương, nẹp vít chỉnh hình lao cột sống vùng cổ - ngực làphẫu thuật khó, cần được thực hiện tại các trung tâm chỉnh hình có thiết bị vàkinh nghiệm.- Phẫu thuật chỉnh hình cột sống ngực thấp thuận lợi hơn do có cácđường vào rộng rãi:+Có thể mở lồng ngực để dọn dẹp ổ lao, ghép xương, đặt nẹp cố định.+Có thể tiến hành chỉnh hình cột sống bằng hai đường mổ riêng biệttrong cùng một lần phẫu thuật: mổ phía trước dọn dẹp ổ lao, chỉnh gù, ghépxương, nẹp vít; mổ phía sau cố định cột sống bằng hệ thống nẹp vít qua cuống cung.+Hiện nay nhiều phẫu thuật viên có kinh nghiệm tiến hành phẫu thuậtloại này bằng một đường mổ phía sau, có thể cắt qua khớp sườn - mỏm ngang đểtiến hành giải ép tủy, ghép xương, đặt nẹp phía trước, rồi đặt nẹp vít qua cuốngcung phía sau.- Phẫu thuật giải ép tủy sống phía sau (laminectomie) hiện ít được ápdụng trong điều trị lao cột sống ép tủy.- Một số trường hợp mủ áp xe do lao cột sống ngực vỡ vào khoang màngphổi (khoảng 10% số ca lao cột sống ngực) gây ra mủ màng phổi, hoặc vỡ vàonhu mô phổi, phẫu thuật không đơn thuần là giải ép tủy mà có thể cần làmthêm ...

khamgiodau.com

I. ĐẠI CƯƠNG


- Cột sống ngực có 12 đốt sống, liên quan nhiều đến phổi, màng phổi,
trung thất.
- Lao cột sống ngực thường gặp hơn các nơi khác của cột sống.
- Trên lâm sàng ít gặp lao cột sống ngực cao (D1-D4) bị mất vững cột
sống, mặc dù có triệu chứng ép tủy; phẫu thuật dẫn lưu áp xe, nạo viêm thân
đốt sống đơn thuần hoặc bằng nội soi qua khoang lồng ngực cũng thường đạt
hiệu quả tốt.
- Phẫu thuật kết hợp xương, nẹp vít chỉnh hình lao cột sống vùng cổ - ngực là
phẫu thuật khó, cần được thực hiện tại các trung tâm chỉnh hình có thiết bị và
kinh nghiệm.
- Phẫu thuật chỉnh hình cột sống ngực thấp thuận lợi hơn do có các
đường vào rộng rãi:
+Có thể mở lồng ngực để dọn dẹp ổ lao, ghép xương, đặt nẹp cố định.
+Có thể tiến hành chỉnh hình cột sống bằng hai đường mổ riêng biệt
trong cùng một lần phẫu thuật: mổ phía trước dọn dẹp ổ lao, chỉnh gù, ghép
xương, nẹp vít; mổ phía sau cố định cột sống bằng hệ thống nẹp vít qua cuống cung.
+Hiện nay nhiều phẫu thuật viên có kinh nghiệm tiến hành phẫu thuật
loại này bằng một đường mổ phía sau, có thể cắt qua khớp sườn - mỏm ngang để
tiến hành giải ép tủy, ghép xương, đặt nẹp phía trước, rồi đặt nẹp vít qua cuống
cung phía sau.
- Phẫu thuật giải ép tủy sống phía sau (laminectomie) hiện ít được áp
dụng trong điều trị lao cột sống ép tủy.
- Một số trường hợp mủ áp xe do lao cột sống ngực vỡ vào khoang màng
phổi (khoảng 10% số ca lao cột sống ngực) gây ra mủ màng phổi, hoặc vỡ vào
nhu mô phổi, phẫu thuật không đơn thuần là giải ép tủy mà có thể cần làm
thêm phẫu thuật bóc vỏ màng phổi hoặc xử lý ổ tổn thương vỡ vào nhu mô phổi
(thường là ổ bã đậu đã được khu trú lại).
- Trên thực tế lâm sàng không ít trường hợp cần cân nhắc về chỉ định
phẫu thuật khi áp dụng cho các đối tượng người bệnh có một hoặc nhiều các yếu
tố sau: thể trạng yếu, người cao tuổi, trẻ nhỏ tuổi, tổn thương lao phối hợp, nhất
là lao phổi chưa điều trị ổn định, lao/HIV, phụ nữ mang thai, v.v.. hoặc người có
hoàn cảnh đặc biệt, không thể lưu giữ lâu ngày tại bệnh viện, với đối tượng nàyHướng dẫn Quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành lao và bệnh phổi
16
cần phẫu thuật sớm loại bỏ ổ lao là chính rồi dùng thuốc chống lao đầy đủ, tích
cực, đúng quy định.
- Nhân đây cần nói thêm về một nguy cơ có thể gặp là tình trạng kháng
thuốc lao của người bệnh, hoặc một số ít người có biểu hiện dị ứng rất nặng với
các loại thuốc chống lao hiện có; điều trị gặp nhiều khó khăn, sau phẫu thuật
tình trạng rò mủ kéo dài, dai dẳng nhiều năm.
- Mô tả kỹ thuật vào cột sống ngực bằng đường mổ phía trước qua khoang
màng phổi để tìm, nạo vét lấy bỏ tổn thương lao, giải phóng tủy sống bị chèn ép.

II. CHỈ ĐỊNH


Tổn thương lao cột sống ngực có áp xe, xương chết, chèn ép tủy, gù nhẹ
(sagital index < 20 độ), không có mất vững cột sống.

III.CHỐNG CHỈ ĐỊNH


Người bệnh có các rối loạn về hô hấp, tim mạch cấp, rối loạn chức năng
đông chảy máu, có các bệnh mạn tính kèm theo như suy tim, suy gan, suy thận.

IV. CHUẨN BỊ


1. Người thực hiện
- Phẫu thuật viên nắm vững kỹ thuật mổ cột sống, mổ lồng ngực, xử lý
tai biến trong và sau phẫu thuật.
- Gây mê viên: gây mê nội khí quản có kinh nghiệm, theo dõi chặt chẽ, tỉ
mỉ người bệnh trong và sau phẫu thuật.
2. Dụng cụ
Bộ dụng cụ phẫu thuật ngực.
3. Người bệnh
Được giải thích kỹ về cuộc phẫu thuật và tình hình bệnh tật, khả năng hồi
phục tổn thương.
4. Hồ sơ bệnh án
- Đầy đủ theo qui định: thủ tục hành chính, giấy cam đoan chấp nhận
phẫu thuật, thủ thuật và gây mê hồi sức.
- Ghi nhận xét trước mổ về tình trạng người bệnh, mức độ ép tủy.
- Các xét nghiệm về máu, nước tiểu, điện
Tin cùng chuyên mục
Dịch vụ nổi bật
Khoa phòng nổi bật
; DMCA.com Protection Status