;

Welcome to Khám Gì Ở Đâu

Bệnh Bướu giáp lan toả -không độc tại Bệnh viện Nguyễn Trãi

Bệnh viện:Bệnh viện Nguyễn Trãi

Địa chỉ: 314 Nguyễn Trãi, Phường 8, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh

Bệnh viện : Tuyến Tỉnh

Thông tin bệnh: Bướu giáp lan toả -không độc
BƯỚU GIÁP ĐƠN THUẦN

Bệnh được mô tả 2700 năm trước Công nguyên ở Trung Quốc. Bướu giáp đơn thuần hoặc bướu giáp không độc còn được gọi là bướu giáp bình giáp, được định nghĩa là tình trạng tuyến giáp lớn nhưng không kèm suy giáp hay cường giáp, không bị viêm hoặc u. Tên gọi bướu giáp đơn thuần, nhưng bệnh xuất hiện trong nhiều bất thường khác nhau. Bệnh thường gặp ở nữ giới, tỷ lệ có cao hơn trong các giai đoạn dậy thì, thai kỳ, tuổi mãn kinh. Bình thường về hình thái, tuyến giáp có dạng hình vuông: 6 x 6cm. Eo tuyến giáp: cao 1,5 cm, rộng 1cm. Mỗi thùy: Cao: 2,5 - 4cm, rộng 1,5 - 2cm, dày 1 - 1,5cm. Tuyến giáp bình thường nặng 10 - 20g. Tuyến màu đỏ nâu, mềm, di động. Có ba thể bướu giáp đơn: Thể lan tỏa, thể nhiều nốt, thể một nốt (có tác giả gọi là thể nhiều nhân, thể một nhân). Thể nhiều nốt thường gặp ở tuổi cao hơn thể lan tỏa, triệu chứng thường không rõ, đa số không cần điều trị, cần sinh thiết xét nghiệm tế bào học để loại trừ ung thư. Thể một nốt thường lành tính, tuy nhiên có khoảng 5% là ung thư biểu mô, cần sinh thiết bằng kim nhỏ để làm rõ chẩn đoán, với thể một nốt lành tính cần tái khám định kỳ, bệnh thường không đáp ứng giảm thể tích với điều trị thyroxine.

I. ĐẠI CƯƠNG


Bệnh được mô tả 2700 năm trước Công nguyên ở Trung Quốc. Bướu giáp đơn
thuần hoặc bướu giáp không độc còn được gọi là bướu giáp bình giáp, được định nghĩa
là tình trạng tuyến giáp lớn nhưng không kèm suy giáp hay cường giáp, không bị viêm
hoặc u. Tên gọi bướu giáp đơn thuần, nhưng bệnh xuất hiện trong nhiều bất thường
khác nhau. Bệnh thường gặp ở nữ giới, tỷ lệ có cao hơn trong các giai đoạn dậy thì, thai
kỳ, tuổi mãn kinh.
Bình thường về hình thái, tuyến giáp có dạng hình vuông: 6 x 6cm. Eo tuyến giáp:
cao 1,5 cm, rộng 1cm. Mỗi thùy: Cao: 2,5 - 4cm, rộng 1,5 - 2cm, dày 1 - 1,5cm. Tuyến
giáp bình thường nặng 10 - 20g. Tuyến màu đỏ nâu, mềm, di động.
Có ba thể bướu giáp đơn: Thể lan tỏa, thể nhiều nốt, thể một nốt (có tác giả gọi là
thể nhiều nhân, thể một nhân). Thể nhiều nốt thường gặp ở tuổi cao hơn thể lan tỏa,
triệu chứng thường không rõ, đa số không cần điều trị, cần sinh thiết xét nghiệm tế bào
học để loại trừ ung thư. Thể một nốt thường lành tính, tuy nhiên có khoảng 5% là ung
thư biểu mô, cần sinh thiết bằng kim nhỏ để làm rõ chẩn đoán, với thể một nốt lành tính
cần tái khám định kỳ, bệnh thường không đáp ứng giảm thể tích với điều trị thyroxine.
II. NGUYÊN NHÂN
- Do thiếu iod tuyệt đối (bướu giáp dịch tễ) thường do nước uống trong vùng bị
thiếu iod, tuy nhiên có nhiều vùng trên thế giới không thiếu iod ngay cả vùng thừa iod
vẫn có thể bị bướu giáp dịch tễ, ngoài ra không phải tất cả người sống ở vùng thiếu iod
đều bị bướu giáp đơn thuần. Điều này cho thấy ngoài yếu tố môi trường còn có yếu tố di
truyền trong bệnh sinh bướu giáp, các yếu tố này có thể tác dụng tương hỗ.
- Do tác dụng của các chất làm phì đại tuyến giáp: Một số loại thức ăn như quả
su có chứa những chất làm lớn tuyến giáp, giải thích sự xuất hiện bướu giáp dịch tễ ở
một số vùng. Ngoài ra một số chất như thiocyanat, acid para-amino-salicylic (PAS),
muối lithium, cobalt, thuốc kháng giáp tổng hợp có thể gây bướu giáp đơn thuần.
III. CHẨN ĐOÁN
1. Lâm sàng
Bệnh thường kín đáo, không có triệu chứng cơ năng. Bướu giáp có thể do người
bệnh hoặc người xung quanh phát hiện, hoặc được phát hiện khi khám sức khỏe tổng quát.
Khám tuyến giáp thấy tuyến giáp lớn ở giữa cổ, ranh giới rõ, không dính vào da,
tuyến lớn lan tỏa hoặc dạng nốt, di động theo nhịp nuốt, không đau. Một tuyến giáp có
thể tích bình thường không bao giờ sờ thấy dù người bệnh rất gầy.
Khám lâm sàng, kết hợp nhìn và sờ nắn. Người khám có thể đứng phía trước
người bệnh, nhìn tuyến giáp, dùng hai ngón tay cái để sờ tuyến giáp. Khi sờ cần định rõ
102
ranh giới, độ lớn, mật độ của bướu, cùng lúc cho người bệnh nuốt, bướu sẽ di động theo
nhịp nuốt. Bướu giáp đơn thuần thường có mật độ mềm trong trường hợp bướu giáp nhu
mô lan tỏa, cũng có khi mật độ chắc thường thấy trong bướu giáp thể nhân.
Bướu lớn có thể gây các dấu hiệu chèn ép cơ quan và tổ chức xung quanh như:
- Chèn ép khí quản gây khó thở.
- Chèn ép dây thần kinh quặt ngược gây nói khó, nói khàn, nói hai giọng.
- Chèn ép tĩnh mạch chủ trên gây phù kiểu áo khoác: Phù ở mặt, cổ, lồng ngực,
hai tay kèm tuần hoàn bàng hệ ở ngực.
Sau khi sờ bướu giáp, có thể dùng thước dây đo vòng cổ của người bệnh, đo
ngang qua nơi tuyến giáp lớn nhất, giúp theo dõi diễn biến qua điều trị.


Nguồn: Goitre - Wikipedia, the free encyclopedia
https://en.wikipedia.org/wiki/Goitre
103
Bảng. Phân độ bướu giáp theo Tổ chức Y tế Thế giới hiện nay
Độ Đặc điểm
0 Tuyến giáp không lớn (khi nhìn cũng như khi sờ)
1 Sờ thấy bướu giáp lớn, nhưng không nhìn thấy với tư thể cổ bình thường. Khối di
động theo nhịp nuốt khi sờ.
2 Nhìn thấy bướu giáp lớn với tư thể cổ bình thường. Hình ảnh bướu giáp lớn phù
hợp với khám khi sờ cổ (bướu giáp nhìn thấy và sờ thấy).
2. Cận lâm sàng
- Xét nghiệm định lượng TSH huyết thanh có giá trị cao, kết hợp với hormon
giáp tự do là xét nghiệm sàng lọc đầu tiên cần thực hiện. Kết quả cho trị số bình thường
đối với bướu giáp đơn. Tuy nhiên tỷ lệ T3/T4 có thể tăng do sự iod hóa của
thyroglobulin bị thương tổn.
- Các thăm dò về hình ảnh học cũng hữu ích trong đánh giá bướu giáp, nhất là
trong trường hợp bướu giáp dạng nốt. Siêu âm tuyến giáp, xạ hình tuyến giáp giúp chẩn
đoán và điều trị. Xạ hình tuyến giáp giúp phát hiện nhân nóng trong nhu mô tuyến giáp,
từ đó có định hướng điều trị.
Siêu âm tuyến giáp là thăm dò hữu ích trong đánh giá tuyến giáp, giúp đánh giá
hình thái và độ lớn tuyến giáp. Có khoảng 30-50% người bệnh bướu giáp dạng nốt sờ
tuyến giáp bình thường được siêu âm tuyến giáp phát hiện. Siêu âm các bướu giáp dạng
nốt cho biết số lượng, hình dạng nốt, đồng thời giúp hướng dẫn chọc hút bằng kim nhỏ
để chẩn đoán tế bào học. Siêu âm giúp theo dõi sau điều trị.
- Chụp phim X quang quy ước vùng cổ và vùng trung thất trên nên thực hiện, có
thể thấy hình ảnh chèn ép khí quản nếu có.
- Chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và xạ hình tuyến giáp cần được chỉ
định trong trường hợp bướu giáp lạc chỗ khu trú trong ngực.
3. Chẩn đoán phân biệt
Bướu giáp đơn cần phân biệt với bệnh Basedow hoặc bệnh Hashimoto.
- Với bệnh Basedow trong giai đoạn nhiễm độc giáp không nặng và thiếu triệu
chứng thương tổn mắt, thường khó phân biệt với bướu giáp đơn, những trường hợp này
cần định lượng kháng thể đặc hiệu của Basedow để phân biệt.
- Với bệnh Hashimoto, nhiều khi cũng khó để chẩn đoán phân biệt, mặc dầu với
bệnh Hashimoto khi sờ thường thấy tuyến giáp có mật độ chắc hơn và không đều. Cần
xét nghiệm kháng thể đặc hiệu, nếu có chuẩn độ cao cần hướng về bệnh cảnh tự miễn
của bệnh Hashimoto.
- Phân biệt với ung thư tuyến giáp, nhất là với thể bướu giáp nhiều nốt. Cần
khám lâm sàng, xét nghiệm, thăm dò cận lâm sàng tìm những triệu chứng gợi ý. Xác
định chẩn đoán ung thư tuyến giáp với xét nghiệm tế bào học.
IV. ĐIỀU TRỊ
- Trường hợp bướu giáp nhỏ, không có triệu chứng lâm sàng: chỉ cần theo dõi
định kỳ bằng khám lâm sàng và siêu âm tuyến giáp để đánh giá độ lớn. Sự phát triển
104
tuyến giáp rất khác nhau ở mỗi người bệnh, một số trường hợp bướu giáp ổn định trong
nhiều năm.
- Điều trị ức chế giáp thông qua ức chế TSH tuyến yên với thyroxin làm giảm
thể tích tuyến giáp khoảng 60% các trường hợp sau 9 tháng điều trị. Tuy nhiên, siêu âm
tuyến giáp sau 3 tháng ngừng điều trị, người ta thấy tuyến giáp trở lại kích thước trước
điều trị. Như thế muốn duy trì giảm thể tích bướu giáp, cần tiếp tục điều trị lâu dài.
- Nói chung bướu giáp đơn thể nốt thường đáp ứng kém hơn thể bướu giáp đơn
lan tỏa. Kết quả điều trị với thyroxine thường tốt hơn ở người bệnh trẻ, bướu giáp không
quá lớn và bệnh mới phát hiện.
- Đối với bướu giáp đơn rải rác (sporadic nontoxic goiter) với nồng độ TSH >
1mU/L có thể chỉ định điều trị levothyroxin để làm giảm TSH huyết tương xuống mức
dưới bình thường (0,5 – 1,0mU/L), không nên cho giảm thấp hơn mức này. Nếu tuyến
giáp giảm thể tích hoặc ổn định có thể tiếp tục điều trị và theo dõi TSH định kỳ.
- Điều trị ức chế thyroxin lâu dài có thể gây tác dụng xấu trên xương và tim. Có
thể gây loãng xương, nhất là đối với phụ nữ mãn kinh, tuy nhiên một số nghiên cứu
khác cho thấy điều trị này không gây loãng xương. Quan điểm hiện nay chấp nhận sự ức
chế TSH với liều levothyroxin hiệu quả thấp nhất, thường trong khoảng 1,5 – 2,0µg/kg
trọng lượng cơ thể/ngày, cần theo dõi TSH và T3 tự do để điều chỉnh liều nhằm giảm
thiểu tác dụng không mong muốn.
- Không nên phẫu thuật bướu giáp đơn thuần vì sau đó có thể gây suy giáp, trừ
trường hợp nhằm giải phóng sự chèn ép sau khi thất bại với levothyroxin. Tỷ lệ tái phát
sau phẫu thuật khoảng 10-20% các trường hợp. Biến chứng do phẫu thuật chiếm 7- 10%.
Điều trị dự phòng levothyroxin sau phẫu thuật có thể không ngăn chặn được sự tái phát
bướu giáp đơn.
- Điều trị với I
131
nhằm làm giảm thể tích bướu có thể áp dụng cho bướu giáp
đơn quá lớn ở người lớn nhưng chống chỉ định phẫu thuật hoặc những trường hợp bị tái
phát sau phẫu thuật. Không áp dụng phương pháp này với người trẻ, cũng như trường
hợp bướu giáp lớn sau xương ức, có thể làm sưng cấp tính tuyến giáp gây đè ép khí
quản nặng hơn. Nói chung I
131
tỏ ra hiệu quả và an toàn đối với bướu giáp đơn thể nhiều
nốt, tuy nhiên tỷ lệ suy giáp khá cao: 22%-40% trong 5 năm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mai thế Trạch (1992). Nội tiết học Tập I. Nhà Xuất bản Y học Chi nhánh Thành
phố Hồ Chí Minh.
2. Trần Hữu Dàng, Nguyễn Hải Thủy (2008). Giáo trình sau đại học chuyên
ngành Nội tiết và Chuyển hóa. NXB Đại Học Huế. 2008.
3. The Washington Manual of Medical Therapeutics 32
nd
Edition (2007)
4. Williams Texbook of Endocrinology 12 edition (2011).
5. World Health Organization, UNICEF and International Council for Control of
Iodine Deficiency Dysorders. Indicators for Assessing Iodine Deficiency Dysorders and
the Control through Salt Iodization. Geneva 1994.
105

Bản đồ địa chỉ Bệnh viện Nguyễn Trãi

dịch vụ nổi bật
Khoa phòng nổi bật
bác sĩ nổi bật
Tốp bệnh viện chữa trị bệnh : Bướu giáp lan toả -không độc
tham khảo
Danh sách bệnh viện chữa trị
; DMCA.com Protection Status